Hiển thị các bài đăng có nhãn Góc Chuyên Gia. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Góc Chuyên Gia. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 29 tháng 8, 2014

Kinh nghiệm lái xe mùa mưa bão

An toàn nhất là ở trong nhà khi trời mưa bão, khỏi lo thủy kích hay tai nạn. Nhưng đã đến ngày cuối tuần cùng với đợt nghỉ tết Độc lập, gia đình, bạn bè đang mong chờ một chuyến đi thoải mái, tiếp thêm năng lượng cho tuần làm việc tới ... Chẳng lẽ lại để những cơn mưa cản chân bạn?, Vậy hãy cùng Dân trí điểm qua một số lưu ý khi lái xe trong mùa mưa bão để bạn có thể thoải mái tận hưởng kỳ nghỉ tới đây.


Trời mưa bão sẽ gây khó khăn cho các lái xe quan sát đường, các ký hiệu giao thông cũng như các xe đang di chuyển, cộng với đường trơn, dễ mất lái, do vậy khi di chuyển trong thời điểm này, việc đầu tiên là nên đi chậm và quan sát kỹ đường đi. Dưới đây là một số lưu ý mà các "tài già" cung cấp cho những người mới, "giờ bay" chưa nhiều.

1. Duy trì khoảng cách hợp lí đối với các xe đi trước, không nên chạy song song với xe ô tô nào (đặc biệt là các xe trọng tải lớn).

2. Nếu có thể, hãy cố gắng quan sát đường vết bánh xe của xe trước để có thể chủ động tránh những bất trắc mà xe trước đã gặp phải.

3. Không nên đi gần những xe trọng tải lớn, bởi những dòng nước bắn ra từ những bánh xe kích cỡ lớn sẽ làm giảm tầm quan sát của bạn. Tuy nhiên, đừng cố vượt khi bạn chưa chắc chắn về tầm nhìn cũng như khả năng tăng tốc của xe không phù hợp.

4. Bật đèn cốt hoặc đèn sương mù ngay cả khi mưa nhỏ cũng như lúc trời âm u, điều này không chỉ giúp bạn quan sát đường tốt hơn, mà còn giúp các phương tiện giao thông khác nhìn thấy bạn. Không nên bật đèn pha khi có xe chạy đối diện vì nó sẽ gây nguy hiểm cho cả hai khi lưu thông.

5. Nếu điều kiện cho phép, hãy chạy xe ở chính giữa tim đường, vì ở hai bên đường thường trũng và rất dễ có hố sâu bên dưới làn nước.

Nếu cẩn trọng, bạn có thể tháo ống ra khỏi cổ lọc gió trước khi qua vũng nước và lắp lại ngay sau khi qua vũng nước ngập để tránh giảm tuổi thọ động cơ

6. Không nên vượt quá giới hạn mà tầm nhìn cho phép. Trời mưa to sẽ hạn chế tầm nhìn của tài xế. Đã có khá nhiều trường hợp “tưởng vậy mà không phải vậy” gây ra những tai nạn đáng tiếc.

7. Khi đi trong khu vực ngập nước, hay cố gắng giữ tốc độ động cơ cao (vòng tua máy) để tránh nước lọt vào ống xả, khiến xe chết máy. Với xe số sàn, nên để số 1, còn với xe số tự động có các số D1, D2… hãy chuyển về D1, cố gắng giữ vòng tua máy cao nhất ở mức có thể.

8. Khi mức nước ngập nửa lốp xe - tức là đã đến giới hạn không nên vượt qua; với xe gầm cao, có thể đi qua nhưng không được để nước tràn qua mũi xe vào cửa gió và động cơ.

Để nước ngập qua cổ hút gió rất dễ gây ra hiện tượng thủy kích và cái giá phải trả rất có thể là một bộ hơi hoặc động cơ mới

9. Khi đi qua khu vực ngập nước cố gắng tránh thời điểm có xe đi ngược chiều. Hai xe đi ngược chiều sẽ tạo sóng hoặc hắt nước ngược lên capo xe, dẫn đến nguy cơ lớn là nước tràn vào họng hút và khoang động cơ.

10. Không phóng xe tốc độ cao vào vũng nước, vì như vậy rất dễ bị nước sục vào họng gió, cũng như tạo "sóng nước", nguy hiểm cho các phương tiện giao thông khác.

11. Khi xe vào đường ngập nước và đột ngột chết máy, tuyệt đối không được khởi động lại động cơ, vì máy sẽ không thể khởi động lại được nữa, mà sẽ rất dễ làm hỏng động cơ (làm cong tay biên, vỡ thành máy...)

12. Khi lái xe vượt qua vùng ngập nước, bạn nên tắt toàn bộ các thiết bị phụ tải không cần thiết như: hệ thống điều hòa, âm thanh… để giảm tải cho động cơ.

Tránh lao nhanh vào vũng nước, gây nguy hiểm cho chính mình và các phương tiện giao thông khác

13. Khi xe chết máy, bạn hãy quan sát xem mực nước có vượt qua mép sàn xe hay chưa, nếu cao hơn thì tuyệt đối không mở cửa, vì nước sẽ tràn vào bên trong, làm hư các hệ thống điện tử, các chất liệu nội thất như: nỉ, da, gỗ....

14. Khi qua chỗ ngập, bạn nên rà nhẹ chân phanh để làm khô các má phanh, loại bớt nước trong hệ thống phanh, đảm bảo cho hệ thống an toàn này hoạt động đúng cách

15. Luôn mang sẵn theo mình một số điện thoại cứu hộ giao thông khi cần thiết.

Còn nhiều câu chuyện lái xe mùa mưa bão mà bài viết này không liệt kê đủ, nếu có thể, xin bạn đọc đừng ngại ngần gì khi chia sẻ tại đây, với báo Dân trí để chúng ta luôn yên tâm khi ra đường, với điều kiện giao thông an toàn nhất, cho mình và cả người thân của mình.
Xin trân trọng những ý kiến đóng góp quý báu của các bạn.

Việt Hưng

Thứ Sáu, 15 tháng 8, 2014

Lúng túng quản lý xe đạp điện, xe máy điện

Mặc dù các cơ quan chức năng đã có những quy định cụ thể để quản lý xe đạp điện, xe máy điện nhưng số lượng xe điện nhập lậu, trôi nổi trên thị trường vẫn diễn ra nhan nhản và có chiều hướng ngày càng phức tạp.
Xe hợp pháp chiếm chưa tới 10%

Xe hai bánh chạy điện được bày bán trên thị trường. (Ảnh: Q.Tấn)

Theo số liệu thống kê của Cục Cảnh sát giao thông Đường bộ - Đường sắt (Bộ Công an), hiện nay có hơn 61.329 xe đạp điện, xe máy điện hợp pháp đang lưu thông. Tuy nhiên con số này chỉ chiếm 8,7% so với số xe máy, xe đạp điện đang lưu thông trên cả nước (theo số liệu không chính thức do cơ quan Công an công bố hiện đã có khoảng 700.000 xe). Qua đó có thể thấy công tác quản lý xe đạp điện, xe máy điện nhập khẩu và xe nội địa đang tồn tại nhiều bất cập.

Tính riêng xe máy điện, theo số liệu thống kê của Cục Đăng kiểm- Bộ Giao thông vận tải, tính đến 31/7/2014 có 3.298 xe được lắp ráp, xuất xưởng hợp pháp; 773 xe nguyên chiếc nhập khẩu (tổng cộng 4.071 chiếc) nhưng mới có 70 xe được đăng ký biển kiểm soát. “Con số này quá nhỏ so với số xe Nhà nước đang quản lý, đó là chưa tính đến số xe lậu đang được người dân sử dụng trôi nổi hiện nay”- ông Nguyễn Hữu Dánh, Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông Đường bộ - Đường sắt cho biết.

Theo một số cơ quan chức năng, cho đến thời điểm hiện tại, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật đối với các mặt hàng này đã được ban hành khá đầy đủ để cơ quan quản lý nhà nước thực hiện công tác đăng kiểm chất lượng; quản lý nhập khẩu, sản xuất, lắp ráp; đăng ký và gắn biển cho phương tiện. Tuy nhiên thực tế lại cho thấy các bộ, ngành chưa thực sự vào cuộc trong việc quản lý, kiểm tra, kiểm soát tạo kẽ hở cho các đối tượng vi phạm pháp luật lợi dụng.

Khó trong quản lý

Ông Đỗ Thanh Lam Phó Cục trưởng Cục QLTT cho biết: “Các văn bản pháp luật đã quy định đầy đủ nhưng cơ quan nhà nước chưa quản chặt được là vì đã có nhiều xe đạp điện, xe máy điện nhập khẩu, lưu hành trước thời điểm văn bản pháp luật có hiệu lực”. Có thể kể đến Thông tư 41/2013/TT- BGTVT quy định về kiểm tra chất lượng an toàn kỹ thuật xe đạp điện, quy định rõ việc dán tem hợp quy đối với phương tiện xe đạp điện nhập khẩu, sản xuất, lắp ráp có hiệu lực từ 1/1/2014. Tuy nhiên, trước thời điểm này nhiều xe đạp điện đã được nhập khẩu, lắp ráp vẫn còn tồn kho, chưa được cơ quan chức năng quản lý (số xe này chưa dán tem và chưa được cơ quan chức năng kiểm kê số lượng) nên một số cơ sở sản xuất, cửa hàng đã quay vòng xe trong kho và xe bán ra thị trường để hợp thức hóa xe nhập lậu. Thủ đoạn của các cơ sở kinh doanh phi pháp này là kê khai số lượng xe nhập lậu trong kho là xe nhập khẩu trước thời điểm 1//2014. Ông Trần Kỳ Hình, Cục trưởng Cục Đăng kiểm Việt Nam cho biết: “Nếu các cơ quan chức năng không kiểm soát được số xe đạp điện đang tồn kho tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh thì xe đạp điện nhập lậu tại các cửa hàng sẽ vẫn được đưa ra thị trường”.

Đối với toàn bộ xe hai bánh chạy điện nhập khẩu, mới đây Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn đã có công văn số 10609/BTC-TCHQ yêu cầu các Cục Hải quan tỉnh, thành phố thực hiện chỉ đạo của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại thông báo số 259/TB-VPCP ngày 7/7/2014. Theo đó, Cục Hải quan tỉnh, thành phố áp dụng điều kiện về giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật đối với toàn bộ xe hai bánh chạy điện nhập khẩu. Chỉ thông quan xe hai bánh điện nhập khẩu khi người khai hải quan xuất trình và nộp cho cơ quan Hải quan giấy chứng nhận chất lượng an toàn kỹ thuật do Cục Đăng kiểm Việt Nam cấp.

Tuy nhiên, vấn đề phân biệt đâu là xe đạp điện, xe máy điện đang trở thành “bài toán” làm đau đầu cơ quan chức năng. Sở dĩ vậy là do quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 14:2011/BGTVT về xe máy điện và QCVN 68:2013/BGTVT về xe đạp điện của Bộ GTVT còn thiếu các quy định chi tiết về kết cấu, bộ phận xe. Cụ thể, quy chuẩn kỹ thuật về xe máy điện quy định xe máy điện có công suất lớn nhất không hơn 4kW, vận tốc không hơn 50km/h; quy chuẩn về xe đạp điện quy định xe có công suất lớn nhất không hơn 250W, có vận tốc không lớn hơn 25km/h, khối lượng không hơn 40kg. Chia sẻ về những hạn chế trong quy định, ông Trần Kỳ Hình cho biết: “Nhiều xe máy điện được lắp thêm bàn đạp vào để trở thành xe đạp điện nhưng các chỉ tiêu về công suất, tốc độ không đổi. Họ làm vậy để thông quan hàng hóa dễ, trốn đăng ký và kiểm soát tại cửa khẩu”. Theo ông Nguyễn Hữu Dánh, với những quy chuẩn kỹ thuật trên: “Cán bộ làm nhiệm vụ đảm bảo trật tự an toàn giao thông rất khó khăn trong việc phân biệt bằng cảm quan 2 loại xe này”.

Lỗ hổng hàng lậu

Hiện công tác xử lý đối với xe máy điện, xe đạp điện nhập lậu cũng tạo kẽ hở cho đối tượng buôn lậu. Ông Đỗ Thanh Lam chia sẻ: “Hàng hóa nhập lậu, trong đó có xe máy điện, khi bị bắt sau đó sẽ được phát mại. Tuy nhiên vấn đề đặt ra là phát mại rồi thì phải ghi nhãn như thế nào đối với số xe này để các đối tượng phi pháp không lợi dụng để nhập tiếp những đợt xe máy điện, xe đạp điện khác. Hôm nay thu được 100 xe để bán ra thì các đối tượng làm ăn phi pháp lại dùng hóa đơn phát mại của cơ quan chức năng hợp thức hóa cho rất nhiều loại xe lậu khác”. Ông Lam cũng kiến nghị nên sửa đổi Thông tư liên tịch 60/2011/TTLT-BTC-BCT-BCA ngày 12/5/2011 của Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Công an hướng dẫn chế độ hóa đơn, chứng từ đối với hàng hóa nhập khẩu lưu thông trên thị trường để giải quyết vấn đề quay vòng hóa đơn, hợp thức hóa hàng lậu trong 72 giờ.

Tại cuộc họp về tăng cường biện pháp quản lý và sử dụng xe máy điện do Ủy ban An toàn giao thông quốc gia tổ chức vừa qua, đại diện Bộ Công an cho biết, trên thực tế, thị trường xe máy điện hiện nay chủ yếu được nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc, Đài Loan. Do vậy, Bộ Công an đề nghị Bộ GTVT bổ sung các quy chuẩn kỹ thuật để phân biệt xe máy điện và xe đạp điện, có tem quy định rõ ràng. Đồng thời, các bộ, ngành liên quan cùng phối hợp thanh tra, kiểm tra các tổ chức, cá nhân nhập khẩu, kinh doanh, sản xuất xe máy điện, yêu cầu mỗi xe máy điện bán ra thị trường cần có đầy đủ pháp lý theo đúng quy định của pháp luật. Cũng về vấn đề này, Bộ Công Thương cho rằng, Bộ GTVT cần phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ triển khai ghi nhãn phương tiện để dễ dàng quản lý.

Trước những kiến nghị trên, Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng đã chỉ đạo các cơ quan chức năng của bộ đưa ra khái niệm xe máy điện là gì một cách đơn giản, dễ hiểu để người dân hiểu được; báo cáo Chính phủ, đề nghị Bộ Tài chính và các bộ, ngành liên quan không thu phí trước bạ, cho phép người dân tự kê khai đăng ký, tự chịu trách nhiệm, thủ tục đăng ký đơn giản, có lộ trình tạo điều kiện cho người sử dụng tự giác đến đăng ký. Đối với xe sản xuất, lắp rắp trong nước, Bộ trưởng yêu cầu Cục Đăng kiểm Việt Nam chịu trách nhiệm kiểm tra và xác định chất lượng. Đối với số phương tiện hiện nay chưa bán ra, yêu cầu doanh nghiệp tự kê khai xong trước ngày 31/12/2014. Từ ngày 1/7/2015, tất cả những người sử dụng xe máy điện mà chưa đăng ký sẽ thực hiện xử phạt theo đúng quy định.

Tính đến thời diểm 26-5-2014 mới có 3 doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp (3 kiểu loại, 600 xe) và 3 doanh nghiệp nhập khẩu (5 kiểu loại, 174 xe) xe máy điện, 2 doanh nghiệp nhập khẩu mô tô điện (2 kiểu loại, 6 xe) đưa xe đến kiểm định chất lượng khi nhập khẩu, sản xuất lắp ráp.

Tính từ ngày Thông tư 41/2013/TT-BGTVT có hiệu lực (1-1-2014) đến ngày 26-5-2014 có 13 doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp (23 kiểu loại, 24.162 xe) và 4 doanh nghiệp nhập khẩu (4 kiểu loại, 128 xe) xe đạp điện đưa xe đến kiếm định chất lượng chiếm tỷ lệ nhỏ so với số phương tiện đang lưu hành trong thực tế (khoảng 700.000 xe).

Theo Quang Tấn
Hải quan Online

Chủ Nhật, 10 tháng 8, 2014

TS Nguyễn Sĩ Dũng: Cấm xe máy là cần thiết và rất phù hợp

Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Sĩ Dũng khẳng định chủ trương cấm xe máy là hoàn toàn đúng đắn và cần triển khai càng nhanh càng tốt.

Sau khi VTC News đăng tải loạt bài về lộ trình cấm xe máy tại các thành phố lớn, đã có nhiều luồng ý kiến khác nhau về vấn đề này.

Không ít người tỏ ra phản đối vì cho rằng đó là phương tiện để mưu sinh, cấm xe máy đi lại bằng gì? Nhưng cũng rất đông ý kiến đồng tình với phương án phải ngay lập tức có lộ trình cấm xe máy để đảm bảo chất lượng cuộc sống cho chính chúng ta.

Trả lời phỏng vấn VTC News, TS. Nguyễn Sĩ Dũng – Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội khẳng định, ông hoàn toàn đồng ý với chủ trương cấm xe máy ở các đô thị lớn.

“Tất nhiên khi đưa ra lộ trình cấm xe máy, Chính phủ cũng cần đưa các giải pháp đi kèm để không ảnh hưởng đến cuộc sống của phần đông người dân lao động đang dựa vào xe máy làm phương tiện kiếm sống hàng ngày”, TS. Nguyễn Sĩ Dũng nhấn mạnh.


Xe máy đang kéo lùi sự phát triển của Việt Nam

- Lộ trình cấm xe máy được Chính phủ đề ra từ năm 2011, song đến nay vẫn "giẫm chân tại chỗ", thậm chí xe máy ngày càng gia tăng ở các thành phố lớn. Ông nhìn nhận thế nào về vấn đề này?

Trước tiên, phải nói rằng cấm xe máy là một chủ trương lớn, về lâu dài là cần thiết và rất phù hợp. Để thực hiện được lộ trình này, theo tôi trước tiên phải làm rõ ai được hưởng lợi từ chủ trương đó, ai bị ảnh hưởng nhiều nhất khi xe máy bị cấm?

TS. Nguyễn Sĩ Dũng

Đương nhiên, cấm xe máy thì những người được hưởng lợi là người đi bộ, đi xe đạp, đi ô tô. Còn đối tượng bị ảnh hưởng lớn nhất là những người đang sử dụng xe máy hàng ngày, đặc biệt những người sử dụng nó làm phương tiện để mưu sinh.

Vì thế, để thực hiện được chính sách này, cần tháo gỡ được những khó khăn của người dân, đặc biệt là của những người đang ngày ngày sống nhờ vào chiếc xe máy.

Chúng ta không thể nói cấm là cấm ngay được. Phải tìm được phương tiện thay thế xe máy.

Thậm chí, vẫn phải chấp nhận xe máy ở mức độ nào đó, chẳng hạn, chỉ coi xe máy là phương tiện lao động, không phải là phương tiện giao thông… Như thế người dân vẫn có thể kiếm sống bằng chiếc xe máy.

Có như vậy thì mới dễ tạo sự đồng thuận trong dân, lộ trình cấm xe máy mới có thể khởi động được.

- Trước hệ lụy từ việc bùng nổ xe máy gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, tai nạn giao thông gia tăng hàng ngày..., theo ông, Việt Nam có nên ra lệnh cấm xe máy ngay lập tức như một số nước từng làm?

Quả thực, các nghiên cứu cho thấy, so với khí thải ô tô thì khí thải xe máy gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng hơn gấp nhiều lần và đang từng ngày gây nguy hiểm cho cuộc sống con người.

Không chỉ gây ô nhiễm môi trường khủng khiếp, xe máy còn là thủ phạm của hàng trăm ngàn vụ tai nạn giao thông thảm khốc mỗi năm… Đây thực sự là vấn nạn mà chúng ta đang phải đối mặt mà nếu không cấm xe máy sẽ khó giải quyết được.

Không chỉ gây ô nhiễm môi trường khủng khiếp, xe máy còn là thủ phạm của hàng trăm ngàn vụ tai nạn giao thông thảm khốc… Đây thực sự là vấn nạn chúng ta đang phải đối mặt mà nếu không cấm xe máy sẽ khó giải quyết được.

Việc cấm xe máy vì thế rất cần thiết. Tuy nhiên cần phải có lộ trình. Cần phải triển khai từ từ, từng bước một để người dân có thể chuyển đổi và thích nghi được.

Đơn giản là để họ tìm ra một loại phương tiện giao thông nào khác phù hợp và đáp ứng nhu cầu của họ. Không thể hôm nay nói cấm, ngày mai thi hành ngay được, làm như vậy là làm khó người dân.

Bước đầu, cần hạn chế loại phương tiện giao thông này. Sau đó khuyến khích người dân dịch chuyển sang phương tiện khác, rồi triển khai từng bước để cấm hẳn xe máy.

- Cụ thể, theo ông, cần có chính sách như thế nào để có thể nhận được sự ủng hộ của người dân trong việc cấm xe máy hiện nay?

Theo tôi, cần đề ra những giải pháp hợp lý, giải quyết được “tình thế” cho những người đang sử dụng xe máy hàng ngày, cụ thể là những người dùng xe máy để đi lại và những người dùng xe máy để lao động kiếm sống.

Thứ nhất, cần phát triển hệ thống giao thông công cộng, nâng cấp hạ tầng, chất lượng dịch vụ để đảm bảo được yêu cầu khi không còn phương tiện cá nhân là xe máy.

Tuy nhiên, muốn phát triển hệ thống giao thông công cộng, chúng ta cần có những nghiên cứu cụ thể, khoa học để xây dựng một hệ thống giao thông công cộng tiên tiến. Không thể hô hào hoặc áp dụng những chính sách mà không thông qua công tác nghiên cứu và nắm bắt thực tế.

Thứ hai, phải vận động người dân chuyển sang sử dụng xe đạp và biến phương tiện này thành một phương tiện cá nhân thời thượng hơn. Để làm được điều này, có nhiều phương pháp, trong đó cần nhắc đến các chiến dịch truyền thông, tuyên truyền người dân đi xe đạp thay vì đi xe máy như trước đây.

Các quan chức nên làm gương sử dụng xe đạp làm phương tiện di chuyển. Có thể thấy rõ những lợi ích từ việc sử dụng xe đạp như bảo vệ môi trường, rèn luyện sức khỏe, giảm ùn tắc giao thông… từ đó, tạo sự đồng thuận từ quần chúng.

Thậm chí, để nhân rộng mô hình sử dụng xe đạp, các cơ quan, tổ chức cần cam kết cho các cán bộ, công nhân viên của mình đi xe đạp thay vì xe máy như hiện nay.

- Nhưng có thể nhiều người sẽ cho rằng nếu quay về “thời đại xe đạp" có nghĩa chúng ta đang tụt hậu. Trong tương lai, ngoài xe đạp thì chúng ta nên phát triển loại phương tiện thay thế nào nếu cấm xe máy, thưa ông?

Ngoài các phương tiện cá nhân như xe đạp, ô tô hay phương tiện công cộng như xe buýt, theo tôi cần thiết nhất phải có hệ thống tàu điện ngầm.

Với tốc độ phát triển như hiện nay, tàu điện ngầm thực sự cần thiết với các thành phố lớn. Hơn nữa, khi chủ trương cấm xe máy được áp dụng thì tàu điện ngầm càng đóng vai trò quan trọng hơn trong giao thông đi lại của người dân.

- Theo ông, để chủ trương cấm xe máy dần được hiện thực hóa, ngoài việc phải có lộ trình cụ thể, có phương tiện thay thế, chuẩn bị tốt hạ tầng giao thông… thì việc cần làm ngay lúc này là gì?

Theo quan điểm của tôi, mọi chủ trương, chính sách muốn thi hành được cần phải có sự đồng thuận và ủng hộ của người dân, đồng thời dựa trên những nghiên cứu, đánh giá thực tế và có cơ sở.

Đối với chủ trương cấm xe máy, khi chưa thể có sự đồng thuận cao, chúng ta có thể bắt đầu từ việc đánh thuế đối với người dân về mức độ gây ô nhiễm môi trường từ các phương tiện giao thông mà họ sử dụng.

Khi đánh thuế mức độ gây ô nhiễm môi trường, thì xe máy là một trong những phương tiện sẽ chịu mức thuế rất cao khi tác hại của nó với môi trường là rất lớn. Do đó, người dân cũng sẽ phải cân nhắc hơn khi sử dụng xe máy trong lưu thông.

Bên cạnh đó, như tôi đã nói, chúng ta cần tạo thói quen đi xe đạp và khuyến khích nó trở thành một phương tiện thời thượng. Ở một số nước phương Tây, việc đi xe đạp là thể hiện trách nhiệm của bản thân đối với môi trường và Việt Nam cũng nên tư duy như vậy.

- Tuy nhiên, để người dân nhận thức rõ vấn đề này là không đơn giản nên lộ trình cấm xe máy vì thế vẫn hết sức gian nan, thưa ông?

Để làm được những việc trên thì truyền thông đóng vai trò lớn trong quá trình vận động cũng như như kêu gọi sự ủng hộ của người dân đối với chủ trương cấm xe máy.

Các phương tiện truyền thông đại chúng cần chỉ ra những mặt tiêu cực của việc sử dụng xe máy. Sự tiêu cực đó thể hiện qua các con số về mức độ gây ô nhiễm môi trường như thế nào ở các thành phố; Xe máy là thủ phạm gây ùn tắc giao thông khủng khiếp như thế nào? ra sao; Hàng năm, có bao nhiêu vụ tai nạn giao thông liên quan đến xe máy, làm bao nhiêu người tử vong, bị thương?...

Tất cả những vấn đề trên đều phải nêu ra bằng các con số cụ thể, từ đó sẽ là những luận cứ thuyết phục để người dân nhận ra được những mặt tiêu cực của xe máy trong giao thông hiện nay.

Truyền thông phải giúp người dân thấy được rằng, khi sử dụng xe máy thì họ đang đầu độc chính bản thân họ từng ngày từng giờ.

Không có cách nào tốt bằng việc để chính người dân nhận thấy việc sử dụng xe máy là đặc biệt nguy hiểm với chính bản thân họ. Loại bỏ xe máy trước tiên vì chính sự an toàn, vì lợi ích của chính họ. Như vậy thì không cần ra lệnh cấm, xe máy vẫn không có cơ hội phát triển thêm.

Hoàng Chiến (thực hiện)

Thứ Ba, 5 tháng 8, 2014

Công nghiệp ôtô không đặt mục tiêu người Việt phải có xe đi

Đề cao yếu tố thị trường đối với công nghiệp ôtô, song Tiến sĩ Dương Đình Giám - Viện trưởng Viện chiến lược - chính sách công nghiệp cho rằng việc phát triển ngành và người Việt có xe đi là 2 chuyện khác nhau.

- Thủ tướng vừa phê duyệt Chiến lược phát triển ngành công nghiệp ôtô đến năm 2025-2035. Trước đó, ngành cũng có một chiến lược tương tự, nhưng được nhiều ý kiến đánh giá là thất bại. Điểm khác biệt của trong kế hoạch lần này là gì, thưa ông?

Tiến sĩ Dương Đình Giám cho rằng Việt Nam không thiếu những nhà sáng chế để phát triển công nghiệp ôtô. Ảnh: Hoàng Lan.

- Chiến lược quy hoạch ôtô đầu tiên được phê duyệt năm 2004 với mục tiêu là 2010 và tầm nhìn đến năm 2020. Nói chiến lược này thất bại tôi cho là hơi nặng lời và oan uổng cho chính ngành ôtô. Nói chính xác phải là không thành công toàn diện như mong muốn mà thôi. Bởi lẽ, sau chiến lược lần thứ nhất, dòng xe thương mại đã khá thành công. Xe tải, xe khách lần lượt đáp ứng được 60% và trên 80% nhu cầu trong nước. Ôtô cá nhân chưa được như kỳ vọng và cần tiếp tục phát triển. Bởi vậy, chiến lược lần này đã điều chỉnh nội dung, chỉ tập trung vào xe tải đến 3 tấn, xe nông dụng đa chức năng, xe khách vận chuyển tầm ngắn - trung bình và xe cá nhân.

Ngoài cơ chế chính sách phục vụ cho sản xuất, điểm mới là tập trung kích cầu tiêu dùng. Năm 2020, theo dự báo, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam sẽ khoảng trên 3.000 USD, sẽ đi vào giai đoạn “ôtô hóa”. Bởi vậy, nhiệm vụ của những người làm chiến lược là làm sao để mong muốn có ôtô và khả năng có thể thanh toán của người dân xích lại gần nhau.

Điểm khác biệt thứ ba là chiến lược đã có tham vấn doanh nghiệp. Trước kia, chúng ta hay nói đưa chính sách vào cuộc sống, nhưng tôi nghĩ khác. Bây giờ phải là đưa cuộc sống vào chính sách, phải xuất phát từ thực tiễn cuộc sống và mục tiêu phát triển của ngành. Chính sách làm ra nhưng các đối tượng thụ hưởng không sử dụng được thì chính sách là vô nghĩa.

- Tuy vậy, các nhà sản xuất lại tỏ ra thất vọng khi quy hoạch ngành lại chưa có chính sách cụ thể, nhất là thuế. Ông chia sẻ thế nào với tâm tư này?

- Trong tờ trình của Bộ Công Thương lên Chính phủ, chúng tôi có kiến nghị về các chính sách thuế rất rõ ràng. Tuy nhiên, trong chiến lược và quy hoạch này chỉ một số nội dung được chấp nhận ngay, vì một số điểm còn phải chờ Chính phủ trình Quốc hội trong kỳ họp tới.

Bên cạnh đó, một số nội dung khác cũng cần phải được sự đồng thuận của các cơ quan quản lý khác. Cụ thể, lộ trình giảm thuế nhập khẩu xe nguyên chiếc theo AFTA đến 2018 là về 0%, được đề xuất, thay vì giảm dần theo bậc thang như trước, nay sẽ duy trì ở mức cao (50%) cho đến hết năm 2016. Sau đó giảm về 30% vào năm 2017 và về 0% vào năm 2018, nhằm kéo dài thời gian bảo hộ cho sản xuất trong nước; hoặc kiến nghị thay đổi cách tính thuế tiêu thụ đặc biệt cho xe nhập khẩu và xe lắp ráp trong nước, để bảo đảm công bằng. Đề xuất này được doanh nghiệp ủng hộ nhưng phải chờ ý kiến của Bộ Tài chính.

- Bài toán khó đối với ngành công nghiệp ôtô Việt Nam là giá xe quá cao, vậy chiến lược lần này có cách nào để hạ giá xe xuống, thưa ông?

- Để kéo giá xe xuống, cần 2 yếu tố, một là nhà sản xuất phải nỗ lực để tiết giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành. Đồng thời, Chính phủ cần tạo ra cơ chế để hỗ trợ sản xuất, còn kích cầu tiêu dùng (sản xuất số lượng lớn thì doanh nghiệp sẽ có điều kiện hạ giá thành). Trong đó, quan trọng nhất là giảm các loại thuế, phí. Ví dụ, một chiếc xe giá 300 triệu, thuế và phí tới 100%, thì giá sẽ đội lên là 600 triệu, nhưng nếu thuế, phí còn 50% thì giá chỉ còn 450 triệu đồng.

Chúng ta vẫn thường nghe nói giá xe lắp ráp ở Việt Nam luôn cao hơn xe ở các nước ASEAN là 20%. Một số nhà sản xuất yêu cầu Chính phủ phải làm thế nào để họ “lấp đầy”được 20% chênh lệch đó. Tôi cho rằng như thế là không hợp lý. Các nhà sản xuất cần thấy rằng, đây không phải là trách nhiệm riêng của Chính phủ. Bản thân họ phải tổ chức sản xuất thế nào, tiết giảm chi phí ra sao, nâng cao năng suất lao động thế nào… để kéo giá thành xuống.

Về phía mình, Nhà nước sẽ hỗ trợ bằng cách tạo điều kiện để phát triển công nghiệp hỗ trợ, để các doanh nghiệp có thể mua được các linh kiện, phụ tùng từ trong nước mà không phải nhập khẩu hoặc thông qua chính sách thuế (giảm thuế đối với các linh kiện phụ tùng trong nước chưa sản xuất được…) làm cho giá thành xe giảm xuống. Doanh nghiệp làm ăn chưa hiệu quả và yêu cầu Nhà nước lấp đầy cái chưa hiệu quả đó là không hợp lý.

Ngoài ra, để có giá xe phù hợp, doanh nghiệp cũng phải căn cứ vào xu hướng tiêu dùng và mức sống của người dân trong nước, tức là phải sản xuất các loại xe nhỏ, gọn, tiêu thụ ít năng lượng, phù hợp với hạ tầng giao thông của Việt Nam… Nếu sản xuất các loại xe này thì cũng là điều kiện để giảm giá thành so với việc sản xuất các loại xe to, tiêu thụ nhiều năng lượng.

- Các doanh nghiệp than rằng, công nghiệp hỗ trợ của ôtô khó phát triển vì sản lượng ôtô của Việt Nam quá thấp, linh kiện làm "không bõ". Theo ông nên giải bài toán này thế nào?

- Vấn đề đặt ra rất đúng, nhưng chúng ta không thể dừng ở đó và không làm gì cả. Nếu nhà sản xuất nói làm ra ít không bõ công nên đi nhập thì Việt Nam mãi mãi không bao giờ có công nghiệp hỗ trợ. Cuối cùng cũng không có luôn cả ngành công nghiệp ô tô. Thực tế, các ôtô lắp ráp ở Việt Nam không phải 100% mọi thứ đều nhập khẩu. Có giai đoạn Toyota Việt Nam nội địa hóa được 37% chiếc xe Inova. Điều đó chứng tỏ không phải ít mà doanh nghiệp chê không bõ, không nên làm. Tôi cho rằng vấn đề ở đây là giá cả và chất lượng. Tất nhiên, cũng phải thẳng thắn nhìn nhận, cái mà trong nước làm được chủ yếu vẫn là phụ tùng, linh kiện đơn giản, như lốp xe, ghế ngồi, gương kính...

Còn nhiều sản phẩm của công nghiệp hỗ trợ thì phức tạp hơn, đòi hỏi doanh nghiệp phải phấn đấu nâng cao năng lực công nghệ, chưa nói đến việc rẻ hay đắt mà trước hết cần đạt chuẩn về chất lượng. Khi đã làm được rồi, thì ngoài việc các doanh nghiệp FDI mua để lắp ráp xe tiêu thụ trong nước, họ sẽ mua để phục vụ cho mạng lưới sản xuất khu vực hay toàn cầu.

Việc mà các cơ quan quản lý cần làm bây giờ là có cơ chế để khuyến khích và tạo dựng các mối liên kết giữa các doanh nghiệp FDI và các doanh nghiệp trong nước. Khối FDI nếu chỉ muốn nhanh, rẻ sẽ đi nhập khẩu, không quan tâm tới các doanh nghiệp trong nước. Ngược lại, khối nội yếu kém, không có năng lực thì mãi mãi không có chuyển giao công nghệ, không phát triển được công nghiệp hỗ trợ. Nhưng để làm được việc này, như trên tôi đã nói, Nhà nước phải có các chế phù hợp để khuyến khích.

- Ngoại trừ số ít có tỷ lệ nội địa hóa từ 19-37%, nhìn chung tỷ lệ nội địa hóa của ngành còn rất thấp. Chiến lược mới có thay đổi gì để giúp cho doanh nghiệp đẩy mạnh nội địa hóa, thưa ông?

- Chiến lược và Quy hoạch lần này có đầy đủ các mục tiêu cho sản xuất, xuất khẩu và cả về công nghiệp hỗ trợ. Để khuyến khích ngành công nghiệp hỗ trợ, những đơn vị nhập khẩu phụ tùng, linh kiện mà trong nước cần khuyến khích đầu tư hoặc đã đáp ứng được về cả số lượng và chất lượng sẽ bị áp thuế trần cao nhất có thể.

Tôi cho rằng, nếu làm ôtô mà đến cái vỏ cũng phải đi nhập thì chẳng có nghĩa là làm. Mà thực tế là chúng ta đang như thế, nhiều doanh nghiệp lắp ráp ôtô nhưng thân vỏ xe cũng phải đi nhập. Trước kia, chiến lược chỉ khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào bộ chuyển động, động cơ, hộp số… là những linh kiện, phụ tùng khó, đòi hỏi công nghệ cao. Nay theo để xuất của Bộ Công Thương, thân vỏ xe cũng là một trong các đối tượng được ưu tiên và khuyến khích sản xuất.

- Campuchia vừa cho ra mắt xe chạy điện, ông cảm thấy thế nào khi nhiều ý kiến cho rằng công nghiệp ôtô Việt Nam đang tụt hậu quá xa so với khu vực?

- Nhiều người nói công nghiệp ô tô lạc hậu và họ nói ngành rất thậm tệ. Nhưng tôi cho rằng việc xuất hiện xe chạy điện ở một nước láng giềng cũng không có gì đáng ầm ĩ. Cái đáng trân trọng ở đây, là sáng chế của một cá nhân, nhưng lại được doanh nghiệp quan tâm và sẵn sàng hỗ trợ cho những ý tưởng còn đang ở dạng phôi thai.

Việt Nam không phải thiếu các nhà sáng chế, nhưng đâu phải ai cũng được quan tâm. Ít người dám đầu tư mạo hiểm để nâng đỡ các ý tưởng. Còn có người sáng chế ra cả máy bay trực thăng, tàu ngầm, nhưng có ai nâng đỡ các ý tưởng đó đâu. Có ý tưởng nhưng nếu để mặc thì ý tưởng rất dễ bị thui chột. Có những “nhà khoa học chân đất” có ý tưởng thì phải có doanh nghiệp, Nhà nước nâng đỡ các ý tưởng đó.

- Là người tham mưu cho Chính phủ, cá nhân ông đánh giá cơ hội thành công chiến lược lần này đến đâu ?

- Để một chiến lược hay quy hoạch một ngành kinh tế - kỹ thuật thành công, phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Nhiều doanh nghiệp hỏi tôi bao giờ chiến lược sẽ được phê duyệt. Bây giờ duyệt rồi, nhưng thực ra đó mới chỉ là phần khung. Các chính sách khác còn phải chờ các bộ, ngành hướng dẫn và triển khai cụ thể. Doanh nghiệp chờ chính sách ưu đãi nên sẽ không triển khai các dự án sản xuất mới, còn người tiêu dùng thì bảo cứ sản xuất đi, giá rẻ tôi sẽ mua. Bởi vậy, xét cho cùng, các chính sách, nhất là các chính sách liên quan đến các loại thuế là rất quan trọng, kể cả việc xây dựng các kế hoạch hành động cụ thể cho ngành để định hướng cho doanh nghiệp.

Thực ra, thị trường ôtô của Việt Nam trong thời gian vừa qua không phải không chuyển động, nhưng nếu có thêm các chính sách kích thích tiêu dùng thì tăng trưởng chắc chắn sẽ ở mức cao hơn. Khi đó, doanh nghiệp sẽ có niềm tin vào thị trường hơn và sẽ chủ động đầu tư hơn. Do vậy, việc ban hành chiến lược và quy hoạch lần này mới chỉ thể hiện Việt Nam quyết tâm xây dựng ngành công nghiệp ôtô. Còn việc thành công hay không lại phụ thuộc nhiều vào việc ban hành các chính sách. Chúng ta cần phân biệt là, Chiến lược và Quy hoạch này là để phát triển ngành công nghiệp ôtô Việt Nam, chứ không phải để cho người Việt Nam có ôtô đi.

Theo Chiến lược Phát triển ngành công nghiệp ôtô Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035, Thủ tướng yêu cầu tập trung vào dòng xe cá nhân kích thước nhỏ, tiêu thụ ít năng lượng phù hợp với hạ tầng giao thông và thu nhập của người dân. Ngoài ra, người đứng đầu Chính phủ cũng yêu cầu chú trọng phát triển dòng xe tải nhỏ và xe khách 10 chỗ trở lên có giá thành hợp lý phù hợp với điều kiện địa hình…

Về phát triển công nghiệp hỗ trợ, giai đoạn đến năm 2020, Thủ tướng yêu cầu về cơ bản hình thành ngành công nghiệp hỗ trợ cho sản xuất ôtô; phấn đấu đáp ứng khoảng 35% (tính theo giá trị) nhu cầu về linh kiện, phụ tùng cho sản xuất lắp ráp ôtô trong nước. Giai đoạn 2026 - 2035 đáp ứng trên 65%.

Theo Hoàng Lan

VnExpress