Chủ Nhật, 25 tháng 5, 2014

Tổng thống Putin: Trữ lượng khí đốt của Nga đủ cho 50 năm tới

Phát biểu tại phiên họp toàn thể của Diễn đàn Kinh tế quốc tế Saint Petersburg - 2014 hôm cuối tuần, Tổng thống Nga Vladimir Putin đề cập hợp đồng cung cấp khí đốt khổng lồ trị giá 400 tỉ USD mà ông vừa ký với chính phủ Trung Quốc, cho biết hợp đồng được ký cho 30 năm trong khi trữ lượng của Nga đủ cho 50 năm tới.


Trong vòng 4-6 năm, Nga sẽ đầu tư vào cơ sở hạ tầng của dự án khí đốt (xây dựng đường ống) 55 tỉ USD, còn Trung Quốc đầu tư 20-22 tỉ USD.

Cũng tại phiên họp này, Tổng thống Nga đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc củng cố lòng tin trong bối cảnh xảy ra một loạt sự kiện chính trị và kinh tế quốc tế gần đây. Về cuộc khủng hoảng tại Ukraine, Tổng thống Putin đánh giá, hiện nay Ukraine đã rơi vào cuộc nội chiến và nguyên nhân xảy ra khủng hoảng là việc mất lòng tin, dẫn đến đảo chính nhà nước ngày 21/2 và tình trạng hỗn loạn như hiện nay. Nhà lãnh đạo Nga một lần nữa kêu gọi các bên đối thoại để tìm ra giải pháp nhượng bộ cho cuộc khủng hoảng tại Ukraine. Ông khẳng định, đàm phán trực tiếp và tìm kiếm nhân nhượng là con đường duy nhất để giúp Ukraine thoát khỏi cuộc khủng hoảng, và điều kiện tiên quyết để thực hiện đối thoại là chính quyền lâm thời Kiev phải ngừng ngay các hành động quân sự tại miền đông-nam.

Đối với các biện pháp của nhiều nước trừng phạt Nga liên quan đến khủng hoảng tại Ukraine, ông Putin cho rằng việc sử dụng các biện pháp trừng phạt kinh tế như một sức ép chính trị sẽ có hiệu ứng ngược "như chiếc boomerang", theo đó các nước trừng phạt cũng phải chịu thiệt hại từ chính các biện pháp này. Về quan hệ giữa Nga với các nước khác nói chung, ông Putin cho biết Nga không muốn tự cô lập mình trên trường quốc tế, nhưng cũng không "cố" để hợp tác với các nước khác. Đề cập quan hệ căng thẳng giữa Nga và Mỹ liên quan đến cuộc khủng hoảng Ukraine, Tổng thống Puttin cho rằng những khác biệt trong quan điểm giữa hai bên không cản trở hợp tác. Tuy nhiên, ông chỉ trích lời đe dọa về gói biện pháp trừng phạt Nga lần thứ 3 mà Mỹ đưa ra, cho rằng nó không công bằng và Mỹ muốn dùng biện pháp này nhằm có được ưu thế trong cạnh tranh thương mại tại châu Âu.

Theo TTXVN/Vietnam+

Khai thác mỏ dầu lớn nhất thế giới

Phương pháp "đun nóng" lòng đất để dầu chảy ra từ đá phiến đang được thử nghiệm để áp dụng trong tương lai ở khu mỏ dầu khổng lồ thuộc bang Colorado và các bang lân cận là Utah và Wyoming của Mỹ. Tuy việc thử nghiệm ở giai đoạn một đã thất bại hoàn toàn nhưng hãng American Shale Oil vẫn quyết định tiếp tục đầu tư cho phương pháp này.


Từ hàng chục năm nay Roger Day, một nhân vật nổi tiếng ở thị trấn Rifle bé nhỏ (gần Denver thuộc bang Colorado) với khoảng 10.000 dân, luôn chăm chú đào bới để tìm tài nguyên khoáng sản trong lòng đất. Ông là người phát hiện mỏ natron tự nhiên duy nhất ở Mỹ, nguyên liệu chính dùng làm bột nở cho các loại bánh, có mặt trong hầu hết các siêu thị ở Mỹ.

Giờ đây ông ước mơ tên tuổi ông sẽ được biết đến ở tất cả các cây xăng trên đất nước này.Ở tuổi 63, thực ra Day, vốn là đại diện của doanh nghiệp năng lượng American Shale Oil (Amso), có thể yên tâm chuẩn bị để nghỉ hưu. Tuy nhiên một nhiệm vụ to lớn, nặng nề nhất lại đang đợi ông ở phía trước - khai thác khu mỏ dầu khổng lồ ở Colorado và các bang lân cận Utah và Wyoming.

Theo ước đoán của Cơ quan địa chất Mỹ USGS thì trên diện tích khoảng 70.000 km2 ở đây, trữ lượng dầu mỏ lên tới 4,3 nghìn tỷ thùng. Theo các nhà địa chất, trong điều kiện tốt nhất, các doanh nghiệp có thể khai thác được ¼ trữ lượng này ở khu vực Green River – tức là gấp bốn lần trữ lượng dầu mỏ ước tính của A-rập Xê-út hiện nay.Cái khó nằm ở chỗ, báu vật trong lòng đất không phải là loại dầu mỏ thông thường mà là tiền chất của nguyên liệu dầu mỏ có tên là Kerogen ở trong đá phiến.

Cội nguồn của Kerogen là các loài tảo, sinh vật phù du và vi khuẩn tích tụ hàng triệu năm dưới đáy một hồ muối khổng lồ. Nhưng do chỉ có một lượng nhỏ oxy tiếp cận được với lớp tích tụ này, chúng không thể trở thành dầu ở dạng lỏng. Mãi tới cách đây 5 triệu năm, nước mới biến mất. Nhưng để tạo thành dầu mỏ, cần có khoảng thời gian từ 50 triệu đến 300 triệu năm. Xét về mặt hoá học, đây là quá trình chuỗi carbon dài bị phá vỡ thành chuỗi carbon ngắn.

Không chỉ Mỹ mới có một khối lượng lớn Kerogen mà cả các nước như Israel, Jordani, Australia, Đông Âu... cũng có trữ lượng lớn Kerogen trong lòng đất. Chính vì vậy nên Amso và hàng chục doanh nghiệp khác đang đặt vận may vào đá dầu.

Kỹ sư Roger Day đã có ý tưởng về việc biến Kerogen thành dầu.Cách Rifle về phía bắc, khoảng 90 phút chạy xe ô tô, là khu vực thử nghiệm của Amso. Đây là một vùng đất hoang vu toàn sỏi đá với những cây thông thấp tè. Theo ông Day thì “dân săn bắn là những người duy nhất tự nguyện đến nơi hoang vắng này”.

Kỹ sư Day và 12 cộng sự đã xây dựng khu thử nghiệm tại vùng đất hoang sơ hầu như không một bóng người này: rất nhiều chuyến xe tải chở thiết bị, máy móc thí nghiệm tới đây. Người ta đã dựng hai tháp khoan, trên đỉnh tháp là cờ Mỹ bay phấp phới. Hàng rào cao khoảng hai mét bao quanh khu thử nghiệm rộng mênh mông.

Đun dầu trong lòng đất

Mục tiêu của Day là đun nóng để dầu chảy ra từ đá phiến. Người ta tuồn hàng chục ống thép xuống độ sâu 650 mét trong lòng đất trên một khoảng diện tích rộng ít nhất 2,5 km2, giống như một dạng lò sưởi giữ ấm nền nhà. Lớp Kerogen ở độ sâu này dày chừng 300 mét.Các nhà kỹ thuật dự kiến sẽ bơm vào một nửa số đường ống hơi một loại dung dịch đặc biệt có nhiệt độ khoảng 500 độ C. Sau khoảng ba tuần, sức nóng làm cho Kerogen biến thành hơi dầu.

Do vật chất ở dạng khí giãn nở nên có thể tạo áp lực đủ để đẩy hơi dầu lên trên qua hệ thống đường ống thứ hai. Tại đây có các thiết bị máy móc làm lạnh để hơi dầu ngưng tụ và được làm sạch. Khí đốt cùng dầu bay lên trên dùng để vận hành nhà máy điện chuyên tạo hơi nóng, do đó không cần có nguồn năng lượng từ bên ngoài.Theo tập đoàn Amso, chỉ cần 25 cơ sở cỡ này là đủ đáp ứng nhu cầu về dầu mỏ của nước Đức trong vòng 30 năm. Giá thành một thùng dầu 120 lít dao động từ 40 đến 80 đôla. Hiện tại giá một thùng dầu trên thị trường là trên 100 đôla.

Bản thân Day cho rằng, phải mất khoảng 10 năm nữa ông mới có thể đạt được mục tiêu nói trên. Cho đến nay, cơ sở đã khoan được hai giếng để đặt đường ống làm lò sưởi trong lòng đất nhưng các nhà kỹ thuật đang đứng trước khó khăn về nguyên liệu làm đường ống.

Khu thử nghiệm của Amso bắt đầu đi vào hoạt động từ năm 2008. Trong quá trình làm thử nghiệm, Day không phải bận tâm về chi phí. Amso và Total đã chi tổng cộng hơn 100 triệu đôla cho việc phát triển công nghệ này.Sau khi nghiên cứu rất kỹ về địa chất, một quá trình mà Day gọi là “chụp X-quang lòng đất”, việc khoan được tiến hành trong bốn tháng và đặt được hàng kilômet đường ống, họ cũng kết nối xong với máy tính và hoàn thiện việc xây dựng một nhà máy phát điện cỡ nhỏ.

Trong thử nghiệm đầu tiên, Day không dùng hơi nước siêu nóng mà dùng một thiết bị giống như một que đun điện khổng lồ, do một doanh nghiệp ở Canada chế tạo với giá 600.000 đôla. Khi kết nối với nhau, que đun điện dài khoảng 30 mét nhưng chỉ to hơn bắp tay này tạo nhiệt độ lên đến 360 độ C và sẽ đun nóng lớp đá phiến trong sáu tháng liền.Để đánh giá kết quả, người ta cài một máy quay phim xuống sâu trong lòng đất; ngoài ra còn có trên 700 cảm biến theo dõi công tác khoan trên địa bàn và cứ mỗi giây thu được hàng nghìn dữ liệu khác nhau.

Tuy nhiên việc thử nghiệm đã thất bại hoàn toàn.Chỉ sau 21 ngày, que đun điện bị cháy. Không có chút dầu nào lên được khỏi mặt đất. Sau đó, người ta đã tuồn xuống lòng đất hai thiết bị rất đắt tiền nhưng tuổi thọ cũng chỉ dài hơn vài tuần lễ so với thiết bị thử nghiệm đầu tiên.


Các đường ống trên bãi thử nghiện của Amso. Chúng bị bẹp dúm như vỏ hộp Coca vì không chịu nổi nhiệt độ cao ở độ sâu 650 mét.

Vấn đề thứ hai là thất bại khi đưa những ống thép xuống dưới lòng đất. Áp lực lớn làm cho các ống kim loại gặp nhiệt bị bẹp dúm như vỏ hộp cola. Vì vậy Day và các chuyên gia về nguyên liệu đã phải tạo ra những hợp kim mới có khả năng chịu lực và tồn tại nhiều năm trong lòng đất.

Tuy vậy Day không hoàn toàn hài lòng với giai đoạn thử nghiệm này. Các cảm biến mỗi ngày thu được hơn một terabyte dữ liệu, Day giải thích, và các nhân viên của ông giờ đây phải đánh giá các dữ liệu đó. Để tối ưu hoá hệ thống này, họ cần biết đá ở trên diện tích rộng bao nhiêu đã được đun nóng đến mức độ nào trong lòng đất và áp lực ở dưới độ sâu này là bao nhiêu. Cuối năm nay, Day sẽ triển khai những thí nghiệm đầu tiên với hơi nóng. Hiện đã có một loại gel đặc biệt có thể cách nhiệt những ống nằm ở gần mặt đất.

Như vậy lượng nhiệt toả xuống lòng đất hầu như không bị thất thoát do đó tăng hiệu quả của công nghệ. Không phải tất cả các doanh nghiệp dự định khai thác Kerogen ở trong lòng đất ở Colorado đều thấy rằng trong tương lai gần việc khai thác này là có hiệu quả kinh tế. Thí dụ hãng Shell cách đây vài tháng đã bỏ dự án đá dầu của mình ở gần khu thí nghiệm của Amso. Vấn đề nổi cộm ở đây không phải là sự cố đối với thanh đun điện, mà là chi phí bảo vệ nguồn nước ngầm quá tốn kém.

Các kỹ sư của hãng Shell có ý định tạo một bức tường băng trong lòng đất xung quanh khu vực khoan để bảo vệ nguồn nước ngầm. Shell không công bố nguyên nhân đích thực của việc ngừng không tiến hành dự án khai thác Kerogen tại đây.

Các nhà bảo vệ môi trường lên tiếng

ExxonMobil có ý định áp dụng phương pháp gây sốc điện trong lòng đất. Phương pháp này còn có tên là Elektrofracking. Theo đó, các ống kim loại sẽ được tuồn theo chiều thẳng đứng vào lòng đất với khoảng cách chừng vài trăm mét một ống. Ở khoảng trống, người ta sẽ bơm một loại chất lỏng có khả năng dẫn điện. Điện chạy trong đất và nung nóng Kerogen, làm bốc hơi và bay lên trên mặt đất.

Mọi phương pháp mà các doanh nghiệp dầu khí đang dự định áp dụng ở Colorado đều là những phương pháp mới mẻ về kỹ thuật. Bởi vậy không có gì lạ khi lực lượng bảo vệ môi trường cũng như cơ quan quản lý nhà nước hết sức chăm chú theo dõi mọi biến động tại đây. Sự bùng nổ phương pháp fracking ở những vùng khác nhau thuộc Mỹ đã giúp mỗi ngày khai thác được khoảng 2 triệu lít dầu mỏ và nhiều km3 khí đốt, nhưng điều này càng làm cho những người bảo vệ môi trường thêm lo lắng.

Tuy có nhiều nghiên cứu nhưng cho đến nay vẫn chưa thể đánh giá cụ thể phương pháp fracking nguy hại đến mức độ nào đối với môi trường. Phương pháp này bơm hàng triệu lít nước trộn với cát và hoá chất vào trong lòng đất để lấy dầu hay khí đốt từ đá phiến. Việc khai thác Kerogen từ trong lòng đất cho đến nay hoàn toàn không có những thẩm định đáng tin cậy về tác động đối với môi trường. Vì lý do này, giờ đây chính phủ ở Denver đã thu hẹp đáng kể diện tích khu thử nghiệm khai thác Kerogen.

Ở Israel, giới bảo vệ thiên nhiên cũng đã có đơn kiện giới ủng hộ Kerogen ra toà, cho nên chưa chắc việc khai thác sẽ được phê chuẩn. Cách đây năm năm, chính phủ Israel đã chèo kéo ông Harold Vinegar, phụ trách nhóm nghiên cứu Kerogen của hãng Shell, nhằm nghiên cứu khai thác mỏ đá dầu tại nước này. Người ta hy vọng Israel sẽ không còn bị lệ thuộc vào việc nhập khẩu dầu mỏ. Tuy nhiên sự phản đối của lực lượng bảo vệ thiên nhiên có thể làm cho dự án này phải ngừng hoạt động.

Đằng sau những cuộc xung đột trên Biển Đông

Việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương - 981 trái phép trên vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam từ ngày 2/5 đã khiến khu vực Biển Đông dậy sóng. Tuy nhiên, đây chỉ là bước đi mới nhất của Trung Quốc sau một loạt vụ vô cớ gây hấn gần đây. Lâu nay Biển Đông hầu như chưa bao giờ bình yên, bởi nó là nơi Trung Quốc muốn thực hiện tham vọng mở rộng vùng kiểm soát nhằm thâu tóm toàn bộ vùng biển này.



Bãi đá cạn Scarborough.

Tại sao Trung Quốc lại muốn độc chiếm Biển Đông? Nguyên nhân là bởi vùng biển này có tầm quan trọng về mặt kinh tế và chiến lược. Về mặt kinh tế, đây là ngư trường đánh bắt cá quan trọng, nơi kiếm sống từ bao đời nay của ngư dân Việt Nam. Năm 1988, người ta ước tính Biển Đông chiếm 8% sản lượng đánh bắt cá toàn thế giới và con số này ngày càng tăng. Khu vực Biển Đông cũng là một trong những tuyến đường hàng hải nhộn nhịp nhất thế giới. Từ những năm 1980, đã có ít nhất 270 tàu buôn dùng tuyến đường này mỗi ngày. Hiện nay, hơn một nửa lượng dầu vận chuyển bằng đường biển đi qua khu vực này. Lưu lượng phương tiện giao thông trên Biển Đông lớn gấp ba lần so với kênh đào Suez và gấp năm lần kênh đào Panama.

Hơn nữa, khu vực Biển Đông được cho là có nhiều trữ lượng dầu mỏ và khí đốt, mặc dù các con số ước tính có sự khác nhau khá lớn. Bộ Khai mỏ và Tài nguyên Địa chất Trung Quốc cho rằng Biển Đông có thể có trữ lượng 17,7 tỷ tấn dầu thô (cao hơn ở trữ lượng 13 tỷ tấn của Kuwait). Một vài năm sau khi có thông tin trên, cuộc chiến giành chủ quyền của một số hòn đảo trên Biển Đông lại thêm căng thẳng.



Bản đồ vẽ đường “lưỡi bò” chiếm gần hết diện tích Biển Đông do Trung Quốc tự vẽ ra.

Một số nguồn khác lại cho rằng trữ lượng dầu ở Biển Đông có thể chỉ là 7,5 tỷ thùng, tương đương 1,1 tỷ tấn, thấp hơn rất nhiều so với ước tính của Trung Quốc. Theo thông tin về Biển Đông của Cục Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), Cơ quan Khảo sát Địa chất Mỹ ước tính trữ lượng dầu đã được phát hiện và chưa được phát hiện vào khoảng 28 tỷ thùng, chỉ bằng một phần nhỏ so với ước tính của Trung Quốc là 213 tỷ thùng. Về khí đốt, EIA cho rằng Biển Đông có từ 25.500 đến 56.600 tỷ m3.

Với trữ lượng dầu khí nhiều như vậy, không ngạc nhiên khi Trung Quốc coi Biển Đông là “biển Ba Tư thứ hai” và lên kế hoạch độc chiếm khai thác. Tổng công ty dầu khí Hải Dương (CNOOC) của nước này đã lên kế hoạch chi 30 tỷ USD trong vòng 20 năm tới để khai thác dầu khí trong khu vực Biển Đông. CNOOC đặt mục tiêu khai thác khoảng 27,5 triệu tấn dầu thô và khí đốt mỗi năm ở độ sâu 2.000 m trong vòng 5 năm tới.

Về tầm quan trọng chiến lược của Biển Đông, Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược và Khoa học (Bộ Công an) nhận định: “Trung Quốc vạch chiến lược để khống chế Biển Đông, chứ không phải dầu khí”. Đến nay, Trung Quốc tự nhận phần lớn Biển Đông là của mình và tự vẽ ra “đường chín đoạn” kéo dài hàng nghìn km về phía đông và nam của tỉnh Hải Nam.

Năm 1947, chính quyền Tưởng Giới Thạch tuyên bố chủ quyền với hầu như toàn bộ Biển Đông bằng “bản đồ 11 đoạn”. Đến năm 1953, Trung Quốc xóa 2 nét đứt ở vịnh Bắc Bộ thành đường 9 đoạn, còn gọi là “đường lưỡi bò”. Trung Quốc còn phát hành bản đồ chi tiết “đường chín đoạn” này, theo đó hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm trọn trong lãnh thổ Trung Quốc.

Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, “Đường chín đoạn” đã bị các nước láng giềng và trên thế giới phản đối vì tính mơ hồ mà chính Trung Quốc cũng không thể giải thích được.

Hiện nay, trong quần đảo Trường Sa Việt Nam kiểm soát nhiều đảo nhất, mặc dù một số nước khác, trong đó có Trung Quốc, cũng tham gia tuyên bố chủ quyền sau khi vô cớ chiếm đóng một số hòn đảo tại đây. Còn quần đảo Hoàng Sa đã bị Trung Quốc chiếm đóng của Việt Nam từ năm 1974. Tháng 7/2012, Trung Quốc ngang nhiên thành lập thành phố Tam Sa, coi đây cơ quan hành chính để quản lý lãnh thổ ở một khu vực rộng lớn trên Biển Đông. Việc này bị nhiều nước phản đối và lên án.

Chiểu theo những quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 thì Việt Nam có đầy đủ căn cứ pháp lý và lịch sử khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; khẳng định quyền chủ quyền, quyền tài phán đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Từ nhiều thế kỷ nay (ít nhất là từ thế kỷ 17), Việt Nam đã xác lập, thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa khi chúng còn là vô chủ. Các nhà nước phong kiến Việt Nam đã thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo này một cách liên tục, hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế mà không gặp phải sự phản đối của quốc gia nào.

Một điểm nóng khác trên Biển Đông là bãi đá ngầm Scarborough đang tranh chấp giữa Philippines và Trung Quốc. Bãi này cách Philippines 160 km và cách Trung Quốc 800 km. Bãi ngầm Scarborough là nguyên nhân khiến quan hệ giữa hai nước căng thẳng, trong đó Philippines cáo buộc Trung Quốc huy động cả tàu quân sự can thiệp tranh chấp. Tháng 4/2012, lực lượng hải quân Philippines phát hiện một số tàu cá Trung Quốc đánh bắt ở khu vực này và tìm cách can thiệp nhưng bị tàu quân sự Trung Quốc chặn lại. Tháng 1/2013, Philippines kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế theo các điều khoản của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển để phản đối “đường chín đoạn” của Trung Quốc. Vụ kiện đến nay vẫn chưa được giải quyết, với lý do Trung Quốc... từ chối ra tòa để đấu lý.
Thùy Dương (tổng hợp)

Hệ lụy từ thỏa thuận khí đốt Nga - Trung

Hợp đồng khí đốt trị giá 400 tỷ USD được ký giữa Nga và Trung Quốc sẽ gây ra những tác động rất lớn đến cấu trúc địa chính trị thế giới. Phương Tây biết rõ điều này, song lại chẳng thể ngăn cản vì căn nguyên suy cho cùng cũng từ họ mà ra.

Liên minh năng lượng Nga-Trung khiến phương Tây lo ngại.

Ngày 21/5, Nga và Trung Quốc đã chính thức ký thỏa thuận khí đốt lịch sử sau đúng 10 năm đàm phán. Theo đó, Nga sẽ cung cấp cho Trung Quốc 38 tỷ m3 khí đốt mỗi năm và kéo dài trong 30 năm để đổi lấy số tiền thu về lên tới 400 tỷ USD.

Thỏa thuận được ký tại thành phố Thượng Hải nhân dịp Tổng thống Nga Vladimir Putin sang thăm chính thức Trung Quốc và dự Hội nghị thượng đỉnh “phối hợp hành động và củng cố lòng tin ở châu Á” (CICA).

Khỏi phải nói giới chức hai nước đã hoan hỉ đến mức nào trước sự kiện này, song với dư luận khu vực và phương Tây, cú bắt tay này ẩn chứa nhiều mưu đồ địa chính trị hơn là ý nghĩa kinh tế. Với bản thân hai nước đứng tên hợp đồng, những toan tính chính trị và lợi ích thu được cũng không tương xứng với nhau.

Hoàn cảnh đưa đẩy Nga

Với Nga, việc ký thỏa thuận chẳng qua cũng chỉ là “vạn bất đắc dĩ” khi việc đa dạng hóa các thị trường năng lượng ngoài Liên minh châu Âu (EU) có tầm quan trọng sống còn đối với Mátxcơva và trở thành vấn đề bắt buộc chứ không đơn thuần là một sự lựa chọn.

Lý do Nga buộc phải làm vậy là vì nước này đang phải hứng chịu các lệnh trừng phạt liên tiếp của Mỹ và châu Âu liên quan đến việc sáp nhập Crimea và cuộc khủng hoảng ở quốc gia láng giềng Ukraine. Với các lệnh trừng phạt ngày càng siết chặt, nền kinh tế Nga đang gặp phải không ít khó khăn khi các nhà đầu tư phương Tây ồ ạt rút vốn tron g khi thị trường xuất khẩu năng lượng chính của Nga là EU đang dần co hẹp.

Trong bối cảnh đó, Nga phải tận dụng mọi khả năng và cơ hội có được để thoát khỏi gọng kìm của phương Tây, qua đó đẩy lùi đà Đông tiến của NATO đang tìm cách mở rộng ảnh hưởng sang khu vực sân sau truyền thống của Nga. Trong muôn vàn cách ứng phó, Nga luôn biết tận dụng sức mạnh vô đối của mình là dầu mỏ và khí đốt để nhắc nhở EU rằng “lục địa già” vẫn đang phải phụ thuộc vào Nga và rằng, Mỹ dù có muốn cũng chưa thể thế chân Nga tại thị trường này nếu như các hợp đồng bị dừng đột ngột.

Tuy nhiên, nói thế không có nghĩa sẽ không có chiều phụ thuộc ngược lại. Hiện tại, Nga xuất sang EU 160 tỷ m3 khí đốt mỗi năm. Với giá bán trung bình 350 USD/1.000 m3, số khí đốt này giúp Nga thu về 56 tỷ USD hàng năm cho ngân sách .

Là quốc gia chủ yếu dựa vào xuất khẩu năng lượng, khi nguồn thu bị siết lại, Nga buộc phải tìm thị trường thay thế. Nổi lên trong số này là châu Á và trong châu Á tiềm năng nhất lại là Trung Quốc, quốc gia vừa có nguồn lực tài chính vừa có nhu cầu năng lượng khổng lồ trong cả hiện tại lẫn tương lai. Theo ước tính, nhu cầu khí đốt của Trung Quốc sẽ vượt xa con số 38 tỷ m3/năm một khi các dự án đường ống vận chuyển hoàn tất và kinh tế nước này lấy lại đà tăng trưởng như trước đây.

Đây chính là lý do vì sao Nga quyết định khóa van châu Âu để mở van Trung Quốc, cho dù xét về giá cả, hợp đồng này không phải là món hời với Nga. Không chỉ chấp nhận giá bán không cao, Nga còn phải tính đến những nguy cơ nảy sinh từ việc phụ thuộc chặt chẽ vào thị trường Trung Quốc, cũng giống như đang phụ thuộc vào thị trường EU hiện nay. Các nhà lãnh đạo Nga không thể không tính tới điều này nhưng hoàn cảnh cấp bách khiến Mátxcơva không thể làm khác.

Chiến lược “chớp mồi” của Trung Quốc

Hiểu rõ thế khó của Nga, Trung Quốc đã chớp lấy cơ hội để đẩy nhanh tiến độ ký kết thỏa thuận và gây sức ép tối đa về mặt giá cả.

Kết quả là sau một thập kỷ thương lượng, cuối cùng Trung Quốc cũng đã ép được Nga ký siêu hợp đồng khí đốt tự nhiên có thời hạn lâu dài, kèm theo một lô nhượng bộ do phía Bắc Kinh đưa ra.

Cụ thể, toàn bộ khí đốt bán cho Trung Quốc sẽ được tính ngang bằng với mức giá bán cho châu Âu hiện nay, trong khi hợp đồng thì mãi đến năm 2018 mới chính thức có hiệu lực. Trong khi đó, Nga đã phải chi rất nhiều tiền cho việc xây dựng đường ống dẫn khí mới nối sang Trung Quốc. Với kinh phí xây dựng hơn 60 tỷ USD cho đường ống mới và việc phải bỏ không đường ống dẫn khí sang châu Âu, tính ra Mátxcơva đang chịu “thiệt đơn thiệt kép” trước “đối tác chiến lược toàn diện” của mình.

Lẽ thường là bên bán, Nga phải nắm quyền chủ động về giá, đặc biệt khi Nga là quốc gia sản xuất năng lượng lớn nhất thế giới còn Trung Quốc là quốc gia tiêu thụ năng lượng nhiều nhất thế giới. Tuy nhiên, do quan hệ căng thẳng với phương Tây nên lợi thế đó của Nga giờ đã không còn nữa. Biết bị Trung Quốc ép giá song ông Putin vẫn phải quyết định “nắn dòng” khí đốt chảy sang Bắc Kinh, chấp nhận mất đi một phần lợi nhuận và làm giảm vị thế của Mátxcơva trong quan hệ đối tác với Bắc Kinh.

Nhưng cái thiệt của Nga chưa dừng lại ở đó. Qua siêu hợp đồng này, Trung Quốc còn muốn đẩy mạnh sử dụng đồng nhân dân tệ trong thanh toán thương mại quốc tế. Bắc Kinh tuyên bố sẵn sàng dùng nội tệ để chi trả nguyên liệu thô của Nga, hoặc sẽ trừ dần số tiền thanh toán vào hàng hóa và dịch vụ xuất sang Mátxcơva.

Theo số liệu thống kê, thương mại song phương giữa Nga và Trung Quốc đạt 90 tỷ USD trong năm 2013, trong đó Trung Quốc xuất sang Nga gần 50 tỷ và nhập về chừng 40 tỷ. Hai bên đặt mục tiêu sẽ nâng con số này lên 100 tỷ vào năm 2015 và 200 tỷ vào năm 2020. Với xu hướng xuất siêu của Trung Quốc, số tiền thanh toán khí đốt mua của Nga thừa sức chuyển hóa thành một phần hàng hóa và dịch vụ xuất sang Mátxcơva.

Và hệ lụy đối với địa chính trị thế giới: Việc Nga – Trung ký hợp đồng khí đốt 400 tỷ USD đang khiến phương Tây hết sức lo ngại.

Xét về kinh tế, giá trị thương mại của hợp đồng này không phải quá lớn khi lượng khí đốt Nga bán cho Trung Quốc từ năm 2018 chỉ chiếm 16% tổng lượng khí đốt xuất khẩu của Tập đoàn Gazprom. Tổng kim ngạch thương mại hai chiều giữa Trung Quốc và Nga chỉ bằng 1/3 kim ngạch Trung Quốc - EU và 1/5 kim ngạch Trung - Mỹ.

Nhưng xét về chính trị, ý nghĩa của hợp đồng này lại có sức mạnh quá lớn, đến mức Tổng thống Putin đã buộc các nhà thương lượng của Nga phải đẩy nhanh tiến trình đàm phán để kịp "chốt hạ" ngay trong chuyến thăm. Việc ký hợp đồng không chỉ giúp Tổng thống Putin gỡ được “bàn thua trông thấy” trong cuộc đối đầu với phương Tây trên mặt trận năng lượng, mà còn tạo ra “liên minh ngầm” chống Mỹ, đối thủ lớn nhất đối với cả Nga và Trung Quốc hiện nay.

Tuy nhiên nếu đánh giá tổng thể, hợp đồng này chỉ có thể giúp Nga giải quyết được các vấn đề trước mắt, còn lâu dài sẽ mang lại không ít bất lợi.

Thứ nhất, để đảm bảo nguồn cung cho mình, châu Âu sẽ phải tìm các nhà cung cấp khác. Trong bối cảnh đó, Mỹ với nguồn khí đốt đá phiến dồi dào và Trung Đông với các giếng dầu khổng lồ sẽ là hai sự lựa chọn hoàn hảo thay thế cho Nga. Vì thế, hệ lụy đầu tiên mà hợp đồng này đem lại là quan hệ Nga – phương Tây sẽ ngày càng xa cách, thậm chí đối đầu căng thẳng khi sợi dây kết nối duy nhất là khí đốt bị cắt đứt. Châu Âu thậm chí sẽ càng có thêm lý do để thúc đẩy chính sách hướng Đông của mình.

Thứ hai, việc Nga và Trung Quốc tăng cường quan hệ - hiện đã lên mức “đối tác toàn diện và tương tác chiến lược” - không chỉ đưa tới việc ký kết hợp đồng khí đốt, mà còn cả các hợp đồng vũ khí công nghệ cao và sự “ủng hộ ngoại giao ngầm” đối với các tuyên bố lãnh thổ của hai bên. Việc Trung Quốc bỏ phiếu trắng cho Nga sau vụ Crimea và Nga gần đây đồng ý bán các máy bay chiến đấu tân tiến cho Trung Quốc, đồng thời “tỏ ra nhỏ nhẹ” trước việc Bắc Kinh đưa giàn khoan Hải Dương-981 vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam là những ví dụ điển hình.

Thứ ba, sự bắt tay giữa Nga và Trung Quốc bắt nguồn từ sự nghi ngờ đối với Mỹ nhưng với tham vọng bá quyền của mình, Trung Quốc chắc chắn sẽ khó đáp lại mong muốn lãnh đạo của Nga. “Giấc mộng Trung Hoa” và sự cao ngạo của Bắc Kinh sẽ không cho phép Nga giữ vai trò chủ đạo ở châu Á như Tổng thống Putin mong muốn, mà thay vào đó Trung Quốc chỉ lợi dụng tình cảnh của Nga để làm lợi cho mình.

Thứ tư, dù coi là đối tác quan trọng bậc nhất nhưng Trung Quốc lại đang tìm cách thúc đẩy quan hệ với khu vực Trung Á vốn được coi là sân sau của Nga. Tại hội nghị SCO ở Bishkek tháng 9 năm ngoái, Chủ tịch Tập Cận Bình đã đưa ra sáng kiến vành đai kinh tế có tên “Con đường tơ lụa mới”. Nếu hình thành, vành đai này sẽ là đối thủ cạnh tranh với Liên minh Á-Âu của Tổng thống Putin. Bước đi này cho thấy Trung Quốc chắc chắn sẽ không chấp nhận sự chế ngự của Nga dưới bất kỳ hình thức nào. Nói theo cách khác, ảnh hưởng của Nga ở Trung Á sẽ tỷ lệ nghịch với sự lớn mạnh của Trung Quốc ở khu vực này và Trung Á rất có thể sẽ trở thành mặt trận tranh giành ảnh hưởng mới giữa hai “người bạn” trong tương lai.

Với những phân tích trên, có thể thấy quan hệ Nga - Trung tuy bên ngoài đang tạo ra hình ảnh về một “liên minh mới nổi” giữa hai nước cùng muốn xây dựng viễn cảnh trật tự thế giới mới nhằm làm thay đổi căn bản cán cân sức mạnh toàn cầu. Nhưng nếu đi sâu hơn vào bản chất bên trong, đây chỉ là quan hệ thực dụng dựa trên những tính toán đôi bên cùng có lợi.

Vì vậy trong thời gian tới, Nga và Trung Quốc chỉ có thể tiếp tục hợp tác chọn lọc mà chưa thể thực sự trở thành đồng minh. Đây cũng là điều đã được chính Tổng thống Putin khẳng định bên lề Diễn đàn kinh tế quốc tế ở St Peterbour ngày 24/5. Có lẽ ông Putin hiểu rằng trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Nga sẽ không thể “hết mình” cho mối quan hệ mang lại lợi ích nhiều hơn cho Trung Quốc, nước có thể sẽ trở thành đối thủ của Nga trong tương lai, nhất là ở khu vực Trung Á. Đức Vũ

Giá dầu tăng do nhu cầu ở Mỹ cùng căng thẳng tại Ukraine

Thị trường dầu mỏ thế giới tuần qua đi lên trong bối cảnh nhu cầu dầu tại Mỹ tăng lên cùng tình hình căng thẳng tiếp tục leo thang khi ngày bầu cử Tổng thống Ukraine ngày càng cận kề.

Cảng dầu Marsa al-Hariga, Libya. (Nguồn: AFP/TTXVN)

Nguyên liệu chiến lược này đã tăng mạnh lên mức cao trong nhiều tháng trong phiên giao dịch ngày thứ Tư 21/5, khi giới đầu tư được biết thông tin lượng dầu dự trữ tại Mỹ giảm nhiều hơn dự kiến.Chốt lại phiên này, giá dầu ngọt nhẹ Mỹ tăng lên mức cao nhất trong một tháng là 104,07 USD/thùng, trong khi giá dầu Brent tăng lên 110,55 USD/thùng - mức cao nhất trong hai tháng rưỡi qua.

Đây là kết quả của việc kho dầu dự trữ chiến lược của Mỹ trong tuần trước nữa (kết thúc ngày 16/5) đã giảm mạnh tới 7,2 triệu thùng, trái ngược hoàn toàn với dự báo tăng thêm của giới chuyên gia và sau nhiều tháng được giữ ở mức khá ổn định. Điều này cho thấy nhu cầu tại Mỹ - nhà tiêu thụ dầu thô hàng đầu thế giới, đã tăng mạnh.Bên cạnh đó thị trường còn lo ngại về những căng thẳng địa chính trị ngày càng nóng lên tại Ukraine và Libya, đặc biệt là ở Ukraine khi ngày bầu cử Tổng thống tại nước này sẽ diễn ra vào ngày 25/5.

Các nhà chức trách Ukraine đã triển khai hàng ngàn cảnh sát và tình nguyên viên sẵn sàng hoạt động nhằm bảo đảm an ninh trong ngày bỏ phiếu, bất chấp việc các phần tử ly khai đe dọa sẽ ngăn cản việc bỏ phiếu tại các khu vực mà họ đang kiểm soát ở miền Đông nước này.Ít nhất bảy người đã bị chết trong cuộc đụng độ giữa những người biểu tình và các lực lượng bảo vệ tại trung tâm công nghiệp Donetsk ở miền Đông Ukraine hôm thứ Sáu 23/5.

Góp phần đẩy giá dầu đi lên còn là những thông tin tích cực đến từ các nền kinh tế lớn, trong đó Chỉ số quản lý sức mua (PMI) của Trung Quốc gia tăng trong tháng Năm và nền kinh tế lớn nhất châu Âu là Đức có mức tăng trưởng ấn tượng.Những diễn biến này đã khiến giá dầu Brent thường xuyên được duy trì ở mức quanh 110 USD/thùng trong hầu như suốt tuần.

Diễn biến trên cũng đẩy giá dầu tăng nhẹ trong phiên cuối tuần 23/5 - hai ngày trước khi diễn ra cuộc bầu cử Tổng thống tại Ukraine. Trong đó tại thị trường New York, giá dầu ngọt nhẹ Mỹ giao tháng 7/2014 tăng 61 xu Mỹ so với phiên trước lên chốt tuần ở mức 104,34 USD/thùng, trong khi tại London, giá dầu Brent Biển Bắc giao cùng kỳ cũng tăng 18 xu lên 110,54 USD/thùng. Cả hai hợp đồng dầu này đều cao hơn các mức chốt của một tuần trước đó.

Các nhà giao dịch đang đánh cược vào khả năng kho dầu dự trữ của Mỹ lại tiếp tục giảm trong tuần tới do mùa duy tu, bảo dưỡng các nhà máy lọc dầu tại Mỹ sẽ còn kéo dài trong hai tuần nữa.Bên cạnh đó, nhu cầu đi lại gia tăng trong dịp nghỉ Hè cũng sẽ khiến xăng dầu bị "ngốn" nhiều hơn.

Doanh nghiệp than cơ chế quản lý giá xăng dầu

Cơ chế quản lý giá xăng dầu hiện nay bị các doanh nghiệp phàn nàn là không sát với giá thị trường và họ không tự chủ được hoạt động kinh doanh.

Theo báo cáo tài chính quý I/2014 hợp nhất mới được Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) công bố, lợi nhuận trước thuế toàn tập đoàn đạt 337 tỉ đồng; trong đó, lợi nhuận đến từ khối kinh doanh xăng dầu được đánh giá là không cao, với 28 tỉ đồng.

Lỗ, lãi theo cơ chế

Ông Trần Ngọc Năm, Phó Tổng Giám đốc Petrolimex, cho biết theo tính toán, khoản lãi 28 tỉ đồng từ xăng dầu nói trên chỉ chiếm 8% tổng lợi nhuận của tập đoàn. Trong khi đó, lợi nhuận từ kinh doanh các sản phẩm hóa dầu như: dầu mỡ nhờn, gas, nhựa đường, hóa chất lớn nhất, chiếm đến 53%. Lĩnh vực bảo hiểm, ngân hàng đem lại 14% lợi nhuận. Vận tải đường bộ và đường thủy viễn dương chiếm khoảng 8% lợi nhuận. Các lĩnh vực còn lại, trong đó có kinh doanh xăng dầu ở nước ngoài và một số ngành nghề khác, chiếm khoảng 17%.

Theo ông Năm, hiện nhà nước chỉ quản lý hoạt động kinh doanh, giá cả bán lẻ các mặt hàng xăng dầu khoáng; còn các sản phẩm hóa dầu thì không trong diện quản lý nên doanh nghiệp (DN) được tự kinh doanh theo giá thị trường. “Giá này vận hành theo nhịp điệu lên xuống của thị trường, không bị điều chỉnh bằng các mệnh lệnh hành chính. Lợi nhuận đến từ nhóm ngành hàng hóa dầu do đó luôn ổn định. Trong khi đó, mặt hàng xăng dầu hoạt động theo sự quản lý của nhà nước nên kết quả kinh doanh phụ thuộc rất nhiều vào chính sách” - ông Năm cho biết.

Điều hành giá xăng dầu hiện nay của cơ quan quản lý còn nhiều bất cập Ảnh: Hồng Thúy

Điều này cũng giải thích vì sao mới đây, kết quả tạm đánh giá hoạt động sản xuất, kinh doanh quý đầu năm 2014, Petrolimex ước tính bị lỗ khoảng 30 tỉ đồng từ xăng dầu nhưng báo cáo tài chính vừa công bố lại chuyển thành lãi 28 tỉ đồng.

Một lãnh đạo của tập đoàn cho biết với sản lượng tiêu thụ mỗi quý của Petrolimex khoảng hơn 2 triệu lít xăng, chỉ cần chi phí lên xuống khoảng 5 đồng/lít thì đã ra mức chênh lệch lợi nhuận 10 tỉ đồng. Mức chênh lệch này liên quan đến hóa đơn các lô hàng về trước hoặc về sau, chi phí định mức được nhà nước cho phép cũng như các công cụ điều hành giá khác...

Chu kỳ giá không sát thị trường

Theo đại diện Công ty TNHH MTV Dầu khí TP HCM (Saigon Petro), dự thảo nghị định về kinh doanh xăng dầu quy định giá cơ sở được tính theo mức bình quân 15 ngày đầu chu kỳ dự trữ tuy đã rút ngắn thời gian so với mức tính 30 ngày nhưng về bản chất hầu như không thay đổi, tức giá xăng dầu vẫn sẽ không theo nhịp thế giới.

Đối chiếu bảng tính giá mà DN này cung cấp có thể thấy rõ điều này. Giả sử ngày 15-5 được lấy là ngày điều chỉnh giá và chu kỳ dự trữ 30 ngày được tính từ ngày 15-4 đến 15-5, khi đó giá cơ sở có sự chênh lệch không nhỏ nếu tính theo 2 cách: 15 ngày đầu dự trữ và 15 ngày sát ngày điều hành.

Cụ thể, nếu lấy giá cơ sở là 15 ngày đầu chu kỳ dự trữ, đến ngày 15-5, giá xăng phải điều chỉnh tăng 600 đồng/lít. Nhưng nếu lấy giá cơ sở 15 ngày sát ngày điều hành thì không phải tăng giá do đang hòa vốn.

“Cách làm này không theo tiền lệ của bất kỳ nước nào trên thế giới khi thực hiện theo giá thị trường, ngay cả khi có sự điều hành của nhà nước” - đại diện Saigon Petro khẳng định.

Còn theo một DN đầu mối khác, nếu tính giá cơ sở theo chu kỳ 15 ngày đầu dự trữ sẽ xảy ra tình trạng một số thương nhân đầu mối tranh thủ cơ hội “trục lợi”. Theo đó, nếu giá 15 ngày sát chu kỳ điều hành giá thấp hơn giá cơ sở, DN có thể tranh thủ nhập nhanh hàng về rồi đưa ra thị trường tiêu thụ với mức thù lao rất cao để hưởng chênh lệch. Còn ngược lại thì một số DN đầu mối có thể hoàn toàn không tham gia thị trường, trong khi các DN khác vẫn phải nhập hàng bình thường và “ôm” luôn phần tiêu thụ của các DN “cơ hội” kia.

“Những DN đầu mối có nguồn hàng ổn định không thể thực hiện được điều đó, vẫn phải vừa nhập với giá cao vừa cạnh tranh hoa hồng gây thua lỗ” - đại diện DN này phân tích.

Đánh giá về công tác điều hành xăng dầu, ông Phan Thế Ruệ, Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam, cho biết: “Về mặt chủ trương, cần phải dần loại bỏ quyết định hành chính để điều hành bằng cơ chế chính sách ổn định, đồng thời phải tách bạch giữa quản lý nhà nước và việc can thiệp vào hoạt động của DN”.

Tách giá cơ sở và tồn kho

Quan điểm của Saigon Petro cho rằng nên hiểu giá cơ sở hoàn toàn không liên quan đến tồn kho. Giá cơ sở là giá thế giới tại thời điểm điều hành giá, còn tồn kho là thực hiện theo yêu cầu kinh doanh của DN và yêu cầu của nhà nước. “Khi giá thế giới tăng thì tồn kho giá thấp có lợi; ngược lại, khi giá thế giới giảm, tồn kho giá cao bị thiệt, do đó bù trừ được lẫn nhau. Khi tách biệt giá cơ sở và tồn kho thì giá sẽ theo giá thị trường, chúng ta hoàn toàn không lo ngại xảy ra tình trạng như nêu trên và dư luận cũng không thể phàn nàn được” - vị đại diện Saigon Petro nói
Theo Phương Nhung
Người Lao động

Tập đoàn hàng đầu Nhật Bản khánh thành nhà máy tại Hải Phòng

Công ty JX Nippon Oil & Energy Việt Nam vừa tổ chức khánh thành nhà máy sản xuất dầu nhờn tại khu hóa chất hóa dầu thuộc KCN Đình Vũ, Hải Phòng.

Nhà máy JX NIPPON OIL & ENERGY Việt Nam tại KCN Đình Vũ, Hải Phòng. Ảnh: baohaiphong.com.vn

Công ty JX Nippon Oil & Energy Việt Nam (thuộc Tập đoàn JX Nippon Oil & Energy, Nhật Bản) được cấp phép thực hiện dự án dầu nhờn tại KCN Đình Vũ vào năm 2012; khởi công xây dựng nhà máy vào tháng 11/2013 và chính thức đi vào hoạt động chỉ sau hơn 1 năm xây dựng.

Theo ông Toshiaki Nagasawa, Tổng Giám đốc JX Nippon Oil & Energy Việt Nam, đây là nhà máy thứ 8 sản xuất dầu nhờn ở nước ngoài của Tập đoàn JX Nippon Oil & Energy, sử dụng công nghệ hiện đại, công suất 40.000 tấn/ năm, cung cấp cho thị trường xe máy và ô tô các sản phẩm chất lượng cao gồm dầu động cơ gasoline, dầu động cơ diesl, dầu nhớt hộp số, ATE, dầu công nghiệp… với nhãn hiệu OEM và ENEOS.

Tổng Giám đốc Toshiaki Nagasawa cho biết trước đây, Tập đoàn thường cung cấp dầu nhờn qua ủy thác. Nay với sự hoạt động của nhà máy dầu nhờn tại KCN Đình Vũ, Tập đoàn sẽ cung cấp trực tiếp sản phẩm tại thị trường Việt Nam.

JX Nippon Oil & Energy là tập đoàn hàng đầu của Nhật Bản về lọc dầu, kinh doanh dầu nguyên liệu, chiếm tới 1/3 sản lượng tại Nhật Bản và là nhà sản xuất dầu nhờn có quy mô đứng thứ 6 trên thế giới. Ngoài ra còn tham gia thị trường điện lực, khí nhiên liệu, than, máy phát điện năng lượng mặt trời và đang mở rộng phạm vi kinh doanh sang lĩnh vực thăm dò, phát triển dầu và khí đốt…

Tập đoàn JX Nippon Oil & Energy bắt đầu hoạt động kinh doanh dầu nhờn tại Việt Nam từ năm 1996 và thành lập Văn phòng đại diện tại TP Hồ Chí Minh năm 2010.

BT